SƠ CỨU BAN ĐẦU, CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH

CÁC TƯ THẾ AN TOÀN ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN CẤP CỨU

Cấp cứu hàng ngày phải tiếp nhận hầu hết những bệnh trong tình trạng nguy kịch như: ngưng thở, dọa ngưng thở, sốc do mọi nguyên nhân, đa chấn thương, rối loạn tri giác: Lơ mơ, hôn mê, rối loạn dấu hiệu sinh tồn, xuất huyết tiêu hóa, ngộ độc cấp, các cơn đau cấp tính … Do đó khi tiếp nhận bệnh và cho người bệnh nằm ở tư thế thích hợp sẽ góp phần làm giảm nhẹ tình trạng rối loạn dấu hiệu sinh tồn, tạo điều kiện thoải mái cho người bệnh, hạn chế tiến triển và biến chứng của bệnh, giúp cho công tác điều trị, chăm sóc người bệnh đạt kết quả tốt hơn.

Dưới đây là những tư thế an toàn áp dụng cho từng bệnh.

1. Tư thế nằm ngửa thẳng:

1.1. Trường hợp áp dụng: Cho bệnh nhân hạ huyết áp, chấn thương cột sống, các cấp cứu cơ bản về hô hấp, tuần hoàn như bóp bóng qua mặt nạ, ép tim ngoài lồng ngực.

1.2. Trường hợp không áp dụng: bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân nôn (sợ sặc chất nôn vào đường thở).

1.3. Tiến hành:

– Ðặt bệnh nhân nằm ngửa thẳng lưng, đầu bằng trên giường hoặc cáng, chân duỗi thẳng, bàn chân vuông góc với cẳng chân.

– Đối với người bệnh chấn thương, nếu nghi ngờ có chấn thương cột sống cổ cần đặt người bệnh ở tư thế nằm ngửa đầu bằng trên ván cứng hoặc cáng cứng, luôn giữ thẳng đầu, cổ, thân, mình và đặt nẹp cổ

2. Tư thế nằm ngửa, chân cao:

2.1. Trường hợp áp dụng: Người bệnh bị mất máu nhiều, giảm thể tích tuần hoàn nặng, phù do tư thế.

2.2. Trường hợp không áp dụng: Người bệnh bị gãy chân, vỡ xương chậu.

2.3. Tiến hành: Ðặt bệnh nhân nằm ngửa, kê chân cao. Tư thế này có tác dụng dồn máu ở chân về tim và giảm bớt tình trạng ứ trệ máu ở hai chân.

3. Tư thế nằm ngửa đầu cao:

3.1 Tiến hành: Đặt người bệnh nằm ngửa, nâng đầu cáng, đầu giường hoặc kê gối lên cao tùy theo tình trạng bệnh, thường nâng cao khoảng 30°

3.2 Tác dụng: Thuận lợi cho tuần hoàn tĩnh mạch từ não trở về, giảm phù não, giúp người bệnh dễ thở hơn, giảm được nguy cơ bị trào ngược và sặc vào phổi. Đặc biệt thích hợp cho người bệnh chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, tăng áp lực nội sọ, các bệnh về hô hấp – tim mạch. Nói chung đây là tư thế thích hợp cho đa số các bệnh nhân cấp cứu nếu không có rối loạn huyết động. Không dùng đối với bệnh nhân tụt huyết áp.

4. Tư thế nửa nằm – nửa ngồi (Fowler)

Đặt người bệnh đầu cao 45-60° hoặc đặt người bệnh ngồi trên giường, tựa lưng vào đầu giường nâng cao chân duỗi thẳng hoặc đặt thấp xuống cạnh giường. tư thế này có tác dụng làm cơ hoành dễ di động hơn, giảm đè ép của các tạng trong ổ bụng lên khoang ngực, giảm tuần hoàn tỉnh mạch trở về tim nên thuận lợi cho các cấp cứu: phù phổi cấp, suy tim, khó thở cấp.

Không nên áp dụng cho người bệnh rối loạn ý thức nặng tụt huyết áp.

5. Tư thế nằm sấp

5.1. Trường hợp áp dụng: các bệnh tổn thương ở vùng sau lưng.

5.2. Tiến hành: Ðiều dưỡng đứng ở một bên giường, đặt bệnh nhân nằm ngửa sát bên giường đối diện, tay bệnh nhân để sát lưng, 2 chân bệnh nhân bắt chéo nhau.

– Ðiều dưỡng viên đặt 1 tay ở bả vai, 1 tay ở mông bệnh nhân.

– Lật nghiêng bệnh nhân về phía mình và nhẹ nhàng đặt bệnh nhân nằm sấp đầu nghiêng về một bên, một bên mặt đặt lên gối mềm để 2 tay bệnh nhân đặt lên gối phía đầu. (Nếu bệnh nhân nặng cần có thêm một người phụ).

6. Tư thế nằm nghiêng an toàn.

Đặt người bệnh nằm nghiêng về một bên, má áp xuống mặt giường, có thể đầu bằng hoặc cao. Tư thế này có tác dụng giải phóng đường thở, tránh bị tụt lưỡi, dẫn lưu đờm giải ra ngoài, hạn chế nguy cơ hít vào phổi đặc biệt trong trường hợp bệnh nhân nôn.

Thường áp dụng cho người bệnh có rối loạn ý thức nhưng chưa có rối loạn hô hấp, tuần hoàn.

7. Tư thế nằm ngửa đùi gấp.

7.1 Trường hợp áp dụng: những bệnh vết thương hoặc chấn thương bụng kín.

7.2 Tác dụng: Làm lỏng các cơ bụng, giảm đau bụng.

Chính vì vậy, người điều dưỡng cấp cứu ngoài tác phong thực hành thao tác chuẩn xác, nhanh nhẹn cần phải có sự nhạy bén trong đánh giá, nhận định người bệnh ngay bước đầu khi tiếp nhận người bệnh cấp cứu để lựa chọn tư thế thích hợp và đặt ngay người bệnh vào tư thế đó. Sau đó, tiếp tục thực hiện các biện pháp cấp cứu, chăm sóc và theo dõi người bệnh. Trong suốt quá trình đó cần phải theo dõi chặt chẽ diễn biến của người bệnh để lựa chọn lại tư thế cho phù hợp.

Đối với những người bệnh còn tỉnh táo, người bệnh thường tự chọn tư thế mà người bệnh cảm thấy dễ chịu nhất, trong trường hợp đó nếu thấy tư thế người bệnh tự chọn phù hợp, không có chống chỉ định thì nên để người bệnh ở tư thế đó./.

 

 

 

 

Tin Liên Quan